Home

____SÁCH NGOẠI VĂN____

__GIẢI PHÁP TỔNG THỂ__

Đưa sách cổ lên Internet PDF Print E-mail

Cô gái trẻ lập diễn đàn quy tụ những người sưu tầm sách cổ và từng bước số hóa nhiều quyển sách xưa có giá trị để phổ cập cho mọi người.

Qua thế giới mạng, nhiều quyển sách hàng độc, từng là tài sản có giá trị, là thú vui tao nhã của một số người sẽ lần lượt trở thành nguồn tri thức chung của đất nước và nhân loại.

Với nhiều người, sách chỉ là nguồn thông tin, kiến thức được thể hiện bằng văn bản, hình ảnh trên giấy. Thế nhưng với nhiều người khác, sưu tầm sách, nhất là sách cổ là một thú chơi. Với nhà khoa học, nhà nghiên cứu, sách và những thông tin bên lề sách là đề tài nghiên cứu đáng nhớ.

Sách không chỉ để đọc

“Với người đọc bình thường, chỉ cần quan tâm đến nội dung sách chứ ít khi quan tâm sách cổ hay sách tái bản nhưng với những người sưu tầm thì thích các bản in lần thứ nhất, các bản có thủ bút tác giả… Họ quan tâm đến cả những thông tin bên lề như trang rao vặt, quảng cáo đi kèm theo sách của thời kỳ đó cho biết một phần đời sống sinh hoạt ngày trước. Ngoài ra, những dòng quảng cáo về sách sắp ra cũng tiết lộ nhiều điều trong điều kiện chưa có danh mục chính xác về tác phẩm đã xuất bản” - đó là quan điểm của anh Hoàng Minh, một thành viên tích cực trên diễn đàn sachxua.net.

Khi lang thang trong thế giới sách cổ có thể gặp những “mảnh” thông tin thú vị về lịch sử ngành xuất bản, về đời sống văn hóa, xã hội… Những người làm sách từ trước năm 1945 đã rất có trách nhiệm với bạn đọc khi trên bìa cuốn Truyện cổ nước Nam của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, nguyên đốc học Hà Đông (NXB Thời Đại, 214 Hàng Bông, xuất bản 1943) có dòng chữ: “Xin chú ý: Tập IV này in sót và sai nhiều nên trước khi dùng sách, xin độc giả hãy xem BẢN ĐÍNH CHÍNH mà sửa lại đã và xin tha thứ cho những khuyết điểm ấy”. Một bộ sách Tam Quốc trong bộ sưu tập của nhà sưu tập sách cổ Yên Ba còn ghi lại: “Lời rao cần kíp” của nhà xuất bản, kêu gọi độc giả hãy mua sách in đủ trang, đừng ham rẻ mà mua của nhà xuất bản khác bị thiếu trang thì sách sẽ không còn giá trị...

Thành viên diễn đàn sachxua.net chuẩn bị cho buổi triển lãm.

 

Đối với người chơi sách, sưu tầm chữ viết tay (thủ bút), chữ ký của tác giả sách là một thú vui lớn. Có những thủ bút độc nhất vô nhị, là chút di vật duy nhất còn giữ được của danh nhân (như thủ bút của các thi sĩ Bích Khê, Hàn Mặc Tử…). Giới sưu tầm sách cổ còn lưu truyền chuyện ông Cao Đắc Điềm, con rể nhà văn Ngô Tất Tố, hậu duệ duy nhất hiện nay chuyên tâm sưu tầm, khảo cứu về tác phẩm của cụ Tố, đã phải photo chữ ký Ngô Tất Tố từ nhà sưu tầm sách cổ Nguyễn Hữu Triết. Được mời đến dự buổi tọa đàm về thú chơi sách ở Việt Nam, nhiều thân nhân của các học giả như ông Nguyễn Xuân Sơn, con rể cụ Vũ Trọng Phụng; bà Lê Thi, Phó Viện trưởng Viện Triết học, con gái cụ Dương Quảng Hàm; bà Lê Minh, con gái nhà văn Nguyễn Công Hoan… đã thể hiện niềm xúc động thực sự khi nhìn thấy những di sản do người thân mình để lại được giới sưu tầm nâng niu, lưu giữ.

Mơ ước số hóa sách cổ

Phạm Thanh Trà, sinh năm 1987, tuổi thì trẻ nhiều so với thành viên diễn đàn sachxua.net nhưng chính cô lại là người sáng lập và quản trị diễn đàn này. Trà tâm sự về lý do thành lập diễn đàn: “Năm 2008, khi đang là sinh viên khoa Kinh tế đối ngoại, Đại học Ngoại thương, ham đọc nhưng không có tiền mua sách mới nên em cũng hay lang thang mấy phố bán sách cũ. Học môn Thương mại điện tử, em thử gắn môn học của mình với thú sưu tầm sách cũ bằng cách lập diễn đàn sachxua.net”. Ý định ban đầu chỉ là tập họp những người cùng sở thích, thực hành các kiến thức học được về thương mại điện tử. Nhưng không ngờ sau này có nhiều cao thủ sưu tầm sách cổ tham gia diễn đàn, em bị cuốn theo niềm đam mê sách cổ.

Mong muốn những cuốn sách cổ phát huy tác dụng với giới nghiên cứu, Trà và một số thành viên diễn đàn sachxua.net đã tìm cách số hóa một số cuốn sách cổ và đưa lên diễn đàn. Việc thuyết phục dân chơi sách cổ để scan sách đưa lên mạng không phải đơn giản vì dân chơi sách bao giờ cũng muốn bộ sưu tầm của mình toàn hàng độc, không muốn chia sẻ công khai với đông đảo người đọc. Trà cùng các bạn lại mày mò xin đĩa số hóa các loại báo xưa như báo Nam Phong, Tri Tân, Thanh Nghị từ Viện Viễn Đông Bác Cổ để đưa lên diễn đàn. Mục “Thư mục tác gia Việt Nam bằng hình ảnh”, sắp tới là “Thư mục báo chí Việt Nam bằng hình ảnh” là một trong những kết quả đáng ghi nhận của diễn đàn trong việc số hóa sách, báo xưa. Những thành viên của diễn đàn hài hước gọi bộ sưu tập sách của mình là “giấy gói xôi” hay “thùng sách nát của gã ve chai”. Nhưng chính những thành viên này lại gửi vào bộ sưu tập biết bao tâm huyết và mơ ước bảo tồn văn hóa Việt Nam.

 

 
26 thư viện đẹp nhất thế giới PDF Print E-mail

Tạp chí điện tử L’Internaute (Pháp) vừa chọn ra (không xếp hạng) 26 thư viện đẹp nhất thế giới.

Nếu xét theo châu lục, danh sách này gồm 19 thư viện ở châu Âu, sáu thư viện ở châu Á và một thư viện ở châu Phi.

 

Thư viện Quốc hội Canada là một trong những thư viện đẹp nhất trên thế giới. Ở giữa phòng đọc của thư viện có đặt một bức tượng của Nữ hoàng Victoria.

 

Thư viện của tu viện Admont (Áo). Nằm trên bờ sông Enns, tu viện Admont được xây dựng năm 1776. Bảy mái vòm của tu viện, trong đó có mái vòm thư viện, đều được họa sĩ người Áo gốc Ý Bartolomeo Antomonte (1694-1783) trang trí bằng tranh tường phong cách Baroque. Thư viện hiện có hơn 200.000 tác phẩm

 

Thư viện Sách hiếm Thomas Fisher, Toronto, Canada

 

Thư viện Abbey St Gall, Thụy Sĩ được công nhận là một trong những thư viện phong phú nhất trên thế giới thuộc vùng Địa Trung Hải. Nó là nơi chứa một trong các bộ sưu tập sách toàn diện nhất vùng Địa Trung Hải, những cuốn sách được ra đời vào đầu thời kì Trung cổ tại khu vực các nước nói tiếng Đức ở châu Âu.

 

Thư viện của tu viện Wiblingen, Đức

 

Thư viện Quốc gia Áo

 

Thư viện Đại học Trinity, thuộc về Đại học Trinity College ở Dublin, là thư viện lớn nhất đất nước Ireland. Được xem là “Thư viện sao chép”, đây là thư viện đóng vai trò sao chép, phổ quát văn hóa học thuật trên toàn đất nước Ireland. Thư viện Đại học Trinity cũng là tiếng nói thể hiện quyền lực của Vương quốc Anh.

 

Thư viện Joanina là một tuyệt tác kiến trúc kiểu Baroque, tọa lạc tại Đại học Coimbra (Thổ Nhĩ Kỳ), được xây dựng vào thế kỷ XVIII dưới thời trị vì của nhà Vua João V. Thư viện Joanina hiện lưu giữ hơn 250.000 tác phẩm các loại, gồm các trước tác về y học, địa lý học, sử học, nhân loại học, khoa học, các văn bản luật và dân sự, triết học và thần học

 

Thư viện Vatican, Italy lưu giữ trên 1.500.000 sách, cộng thêm 150.000 cảo bản quý giá, mà cảo bản xưa nhất có từ giai đoạn cuối của Đế Quốc La Mã.Thư viện chủng viện  Melk – Áo. Tu viện Melk hay có tên gọi khác là Stift Melk, được thành lập năm 1089, là một tu viện dòng tu Benedictine của Vương quốc Áo, là một trong những chủng viện nổi tiếng nhất thế giới. Sau Thế chiến II, tu viện bị cải tạo thành một ngôi trường học với gần 900 học sinh đủ hai giới nam và nữ theo học. Kể từ năm 1625, tu viện Melk trở thành thành viên của Giáo đoàn nhà thờ Áo, ngày nay thuộc Liên minh dòng tu Benedictine.

 

Thư viện chủng viện  Melk – Áo. Tu viện Melk hay có tên gọi khác là Stift Melk, được thành lập năm 1089, là một tu viện dòng tu Benedictine của Vương quốc Áo, là một trong những chủng viện nổi tiếng nhất thế giới. Sau Thế chiến II, tu viện bị cải tạo thành một ngôi trường học với gần 900 học sinh đủ hai giới nam và nữ theo học. Kể từ năm 1625, tu viện Melk trở thành thành viên của Giáo đoàn nhà thờ Áo, ngày nay thuộc Liên minh dòng tu Benedictine.

 

Thư viện Quốc gia Pháp lưu giữ rất nhiều những bản thảo của các nhà văn danh tiếng, những cuốn sách chép tay quý giá, những bản Kinh Thánh cổ cùng nhiều tài liệu có giá trị đặc biệt như Jikji, cuốn sách in kim loại đầu tiên thực hiện năm 1377, hay bức ảnh cổ nhất do Nicéphore Niépce chụp năm 1825.

 

Thư viện của Hungary

 

Thư viện của Bảo tàng Anh

 

Thư viện Pierpont  Morgan, New York, Mỹ

 

Thư viện lâu đài Fontainebleau, Pháp

 

Thư viện Chetham, Mancheste, Anh

 

Thư viện Quốc hội Thụy Điển

 

Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ gồm hơn 30 triệu cuốn sách được phân loại và các tài liệu in ấn khác được viết bằng 470 thứ tiếng; hơn 61 triệu bản thảo viết tay; bộ sưu tập các cuốn sách hiếm lớn nhất Bắc Mỹ, bao gồm bản sơ thảo Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Kinh Thánh Gutenberg

 

Thư viện Sainte-Geneviève, Đại học Paris

 

Thư viện Quốc gia CH Séc

 

Thư viện ở Mexico

 

Thư viện Quốc gia Nga

 

Thư viện ở Kenwood, Anh

 

Thư viện Công cộng New York là nơi có số lượng sách lớn nhất, hơn bất cứ hệ thống thư viện công cộng nào tại Hoa Kỳ. Nó phục vụ các quận Manhattan, The Bronx, và Đảo Staten

 

Thư viện bảo tàng Victoria và Albert ở Lon Don, Anh

 

Thư viện Alexandria, Ai Cập

 

 
Lịch sử mã vạch Barcode PDF Print E-mail
Năm 1932, một nhóm nhỏ các sinh viên khoa Quản Trị Kinh Doanh của trường Đại Học Hardvard Hoa Kỳ mà dẫn đầu là Wallace Flint, đã tiến hành một dự án đầy tham vọng. Dự án này đề xuất rằng, các khách hàng chọn lựa hàng hoá trong Catalog theo ý muốn bằng cách gỡ ra các thẻ có bấm lỗ tương ứng trong Catalog đó. Các thẻ có bấm lỗ này được chuyển đến cho người kiểm phiếu, người này đặt các thẻ vào trong một máy đọc. Khi ấy hệ thống sẽ rút hàng hoá trong kho 1 cách tự động và giao nó cho quầy tính tiền. Hoá đơn tính tiền được giao cho khách và hồ sơ thống kê hàng hoá sẽ được cập nhật.

Barcode ngày nay bắt đầu vào năm 1948. Bernard Silver, một sinh viên tốt nghiệp Học Viện Công Nghệ Drexel thuộc Bang Philadelphia, đã nghe lõm được vị Chủ tịch của một Liên hiệp sản xuất thức ăn dây chuyền địa phương (Local Food Chain) nhờ 1 trong Ban quản lý nhà trường đảm trách việc nghiên cứu phát triển một hệ thống tự động đọc các thông tin trong sản phẩm trong quá trình kiểm tra tính tiền. Silver đã kể cho bạn của ông ta là ông Norman Joseph Woodland về lời yêu cầu của vị Chủ tịch Liên Hiệp sản xuất thức ăn dây chuyền này. Woodland là một sinh viên tốt nghiệp đại học 27 tuổi và là giáo viên ở Drexel. Vấn đề này đã hấp dẫn Woodland và ông ta bắt đầu nghiên cứu về đề tài này.

Ý tưởng đầu tiên của Woodland là sử dụng các mẫu mực phát sáng dưới tia cực tím. Woodland và Silver đã tạo nên một dụng cụ làm việc được với các mẫu mực này, nhưng hệ thống gặp trở ngại với tính không ổn định của mực và chi phí in các mẫu còn cao. Woodland vẫn tin rằng họ đã có ý tưởng đúng.
Woodland mang theo một số tiền kiếm được nhờ thị trường chứng khoán, bỏ cả công việc giảng dạy ở Drexel và dọn đến ở với ông nội ở bang Florida để có nhiều thời gian hơn nghiên cứu về đề tài này.

Vào ngày 20/10/1949, Woodland và Silver đã lập thủ tục xin cấp bằng phát minh có tiêu đề là "Phương pháp và Dụng cụ phân loại". Các nhà phát minh đã mô tả phát minh của họ là có liên quan đến "nghệ thuật phân loại các món hàng.... thông qua các phương tiện nhận dạng mẫu".
Phần lớn lịch sử Barcode đều nói rằng barcode của 2 ông Silver và Woodland là ký hiệu "mắt bò", một loại ký hiệu được tạo thành bởi một loạt các vòng tròn đồng tâm. Trong khi Woodland và Silver đã mô tả 1 ký hiệu như vậy, thì người ta đã mô tả ký hiệu cơ bản của mã vạch là những mẫu vạch thẳng khá giống như loại barcode 1D ngày nay

Ký hiệu này được tạo ra từ một mẫu 4 vạch trắng trên một nền sậm. Vạch đầu tiên là vạch dữ liệu và vị trí của 3 vạch còn lại được ấn định có liên quan đến vạch đầu tiên. Thông tin được mã hoá theo sự "có" hoặc "không có" 1 hoặc vài vạch trong số các vạch này. Điều này cho phép có 7 sự phân loại hàng hoá khác nhau. Tuy nhiên các nhà phát minh lưu ý rằng nếu bổ sung thêm nhiều vạch hơn nữa thì sẽ mã hoá được nhiều chủng loại hơn. Với 10 vạch có thể mã hoá được 1023 chủng loại.
Đơn xin cấp bằng phát minh của Woodland và Silver được chấp thuận vào ngày 7/10/1952 là bằng phát minh thứ 2,612,994 của Hoa Kỳ.

Vào năm 1962, Silver mất ở tuổi 38 trước khi kịp trông thấy ứng dụng barcode trong thương mại. Woodland đã nhận giải Huân Chương Công Nghệ Quốc Gia 1992 được trao bởi Tổng thống Bush. Không phải người nào cũng khởi đầu một sự nghiệp 1 tỷ đô la bằng vào sáng kiến của họ.
Mãi cho đến năm 1966, barcode mới được thương mại hoá. Hiệp hội Quốc gia các Liên Hiệp sản xuất thức ăn dây chuyền (NAFC=The National Association of Food Chains) đã kêu gọi các nhà chế tạo các thiết bị cho các hệ thống thúc đẩy được quá trình kiểm chứng. Năm 1967, RCA đã lắp đặt một trong các hệ thống quét đầu tiên ở kho Kroger thuộc Cincinnati. Các code sản phẩm này được tượng trưng bằng các "barcode mắt bò", gồm 1 loạt các thanh tròn đồng tâm và các khoảng trống có bề rộng thay đổi. Các mã vạch này không được in trước trên bao bì của sản phẩm, mà được in lên nhãn và dán lên các món hàng bởi các công nhân của Kroger. Nhưng có những vấn đề rắc rối với mã RCA/Kroger. Người ta nhận thấy rằng ngành công nghiệp sẽ phải đồng ý về 1 hệ thống mã hoá tiêu chuẩn mở ra cho tất cả các nhà chế tạo thiết bị sử dụng và được tiếp nhận bởi tất cả các nhà buôn và các nhà sản xuất thực phẩm.

Năm 1969, NAFC đã nhờ công ty Logicon phát triển một đề án cho hệ thống mã vạch phổ biến trong công nghiệp. Kết quả là Phần 1 và phần 2 của Mã Nhận Dạng Vật Phẩm Phổ Biến (UGPIC=Universal Grocery Products Identification Code) đã ra đời vào mùa hè năm 1970. Dựa trên lời đề nghị trong bản tường trình của Logicon, Uỷ Ban Đặc Nhiệm Siêu Thị Hoa Kỳ về Mã vật phẩm độc nhất được hình thành. Ba năm sau đó Uỷ ban này đã đề nghị việc thông qua ký hiệu UPC mà ngày nay vẫn còn được sử dụng tại Hoa Kỳ. Ký hiệu này được IBM đệ trình và được phát triển bởi George Laurer, người đã có công làm lớn mạnh ý tưởng của Woodland và Silver. Woodland là 1 nhân viên của IBM thời bấy giờ.

Vào tháng 6/1974, một trong các máy quét UPC đầu tiên được chế tạo bởi hãng NCR (hồi ấy gọi là công ty National Cash Register), được lắp đặt tại siêu thị Marsh, ở Troy, bang Ohio. Vào ngày 26/6/1974 sản phẩm đầu tiên có mã vạch được quét tại quầy tính tiền. Đó là 1 phong kẹo cao su 10 miếng hiệu Wrigley's Juicy Fruit. Phong kẹo cao su này không có mẫu mã gì đặc biệt cả để trở thành sản phẩm được quét mã vạch đầu tiên. Nó chỉ tình cờ là món hàng đầu tiên được "bốc" lên từ trong chiếc xe đẩy của một người mua sắm nào đó mà tên của ông ta từ lâu đã bị quên lãng vào lịch sử. Ngày nay, thanh kẹo cao su này được trưng bày tại Viện Bảo Tàng Quốc Gia Lịch Sử Hoa Kỳ thuộc Học viện Smithsonian.

Đầu tiên thử nghiệm tại một ứng dụng công nghiệp về nhận dạng tự động đã bắt đầu vào cuối thập niên 1950 bởi Hiệp Hội Đường Sắt Châu Mỹ. Năm 1967, Hiệp Hội này đã thông qua một loại mã vạch quang học. Việc dán nhãn cho xe hơi và việc lắp đặt máy quét đã bắt đầu vào ngày 10/10/1967. Phải mất 7 năm trước khi 95% đoàn xe được dán nhãn. Vì nhiều lý do, hệ thống đơn giản đã không hoạt động và bị bỏ dỡ vào cuối những năm 1970.
Sự kiện mà thực sự đã đưa barcode vào các ứng dụng công nghiệp xảy ra vào ngày 1/9/1981 khi Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ chấp thuận việc sử dụng Code 39 để đánh dấu tất cả các sản phẩm bán cho quân đội Hoa Kỳ. Hệ thống này được gọi là LOGMARS.
 
Như vậy là vào năm 1992, Joe Woodland đã nhận được bằng Huân Chương Quốc Gia Công Nghệ về việc phát minh ra barcode.
Năm 1973, George J. Laurer là người đã phát triển ra loại barcode UPC và sau này được cải tiến thành EAN. Laurer đã viết về quá trình phát triển UPC như sau:
Vào khoảng năm 1970, McKinsey & Co (1 công ty tư vấn) liên kết với UGPCC (Uniform Grocery Product Code Council = Hội mã vật phẩm độc nhất), một công ty được hình thành bởi Hiệp hội thương mại hàng đầu về công nghiệp thực phẩm, đã định ra một dạng thức số dùng để nhận dạng sản phẩm. Một yêu cầu đặt ra cho nhiều công ty là thực hiện một đề án về một bộ mã, một ký hiệu liên kết chặt chẽ đến bộ mã và những đặt điểm kỹ thuật cho cả hai. Yêu cầu này được gửi đến các công ty Singer, National Cash Register, Littion Industries, RCA, Pitney-Bowes, IBM và nhiều công ty lớn nhỏ khác.
Đa số những công ty khác đã có các mã quang học và thiết bị quét ở thị trường rồi, nhưng IBM thì không. Chính vì vậy vào năm 1971, ban lãnh đạo IBM đã giao cho tôi nhiệm vụ thiết kế ra một bộ mã và ký hiệu tốt nhất thích hợp cho ngành công nghiệp thực phẩm.
Sau khi xem xét, tôi đã nghĩ ra được 1 phương cách và đã chia cắt ký hiệu. Hồi ấy có 2 người khác cùng làm việc với tôi về mặt lý thuyết tính toán khả năng đọc và ghi chép đề án chính thức của công ty IBM đối với ngành công nghiệp.
Chúng tôi đã thực sự đệ trình 3 đề án mà mỗi đề án có những thay đổi nhỏ theo yêu cầu của UGPCC. Một đề án mở rộng dung lượng lên đến 11 ký số và một đề án khác là thiết kế 1 phiên bản "nén về Zero".
Tất cả các đối tác được yêu cầu trình diễn thiết bị của họ và có sự đánh giá của Học viện Battelle Memorial. Tôi đã có công thiết kế ra thiết bị của chúng tôi và đã nhận được vài bằng phát minh mô tả các phương pháp mà chúng tôi đã sử dụng trong việc "tìm tòi", giải mã và sửa lỗi.
Vào tháng 5/1973, đề án của IBM được chấp thuận. Những thay đổi duy nhất được thực hiện bởi UGPCC là loại Font được sử dụng để cho con người có thể đọc được và đặc tính tương phản về mực.
 
 
« StartPrev12345678910NextEnd »

Page 2 of 15

_____LỊCH VẠN NIÊN_____

____TỪ ĐIỂN ONLINE____

__HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN__

harmony_moo
itnamhoang
nothingelse101
trungthanh_bsa3
Hỗ Trợ Khách Hàng 0904.288.822 - 0987.496.424

____NUMBER ONLINE____

We have 2 guests online

TỔNG SỐ LƯỢNG TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday2
mod_vvisit_counterYesterday29
mod_vvisit_counterThis week117
mod_vvisit_counterThis month221
mod_vvisit_counterAll13558
Copyright 2009. NAMHOANG Company. Address: No.105 - C1C/36 - Lang Ha - Dong Da - Ha Noi. Tel: (84-4) 37760956 - 37761514. Fax: (84-4) 37760957. Email:naha@hn.vnn.vn sales@namhoang.com.vn support@namhoang.com.vn. Website:http://www.namhoang.com.vn